|
Hội
An là một thành phố thuộc tỉnh Quảng
Nam có nhiều khu phố cổ được xây từ
thế kỷ 16 và vẫn còn tồn tại gần như
nguyên vẹn đến nay. Trong các tài
liệu cổ của phương Tây, Hội An được
gọi Faifo. Phố cổ Hội An được công
nhận là một di sản thế giới UNESCO
từ năm 1999. Hiện nay chính quyền sở
tại đang tích cực khôi phục các di
tích, đồng thời phát triển thành một
thành phố du lịch. Hội An đã đươc
công nhận là đô thị loại III và đã
được công nhận là thành phố trực
thuộc tỉnh Quảng Nam.
Địa lý
Hội An trở thành thành phố vào năm
2008 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự
nhiên, dân số và các đơn vị hành
chính trực thuộc của thành phố Hội
An, với 6.146,88 ha, 121.716 nhân
khẩu.
Khi thành lập thành phố, Hội An có
13 đơn vị hành chính, gồm 9 phường:
Minh An, Sơn Phong, Cẩm Nam, Cẩm
Phô, Thanh Hà, Tân An, Cẩm Châu, Cẩm
An, Cửa Đại; 4 xã là Cẩm Hà, Cẩm
Thanh, Cẩm Kim và xã đảo Tân Hiệp –
Cù lao Chàm.
Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã 3 sông
Thu Bồn thuộc vùng đồng bằng ven
biển Tỉnh Quảng Nam, cách Thành phố
Ðà Nẵng về phía Nam 28 km.
- Phía Ðông giáp biển Ðông
- Phía Nam giáp Huyện Duy Xuyên
- Phía Tây và Bắc giáp Huyện Ðiện
Bàn
Lịch sử
Trước thế kỷ thứ 2
Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát
các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá
I,II; An Bàng; Xuân Lâm và các di
chỉ cư trú : Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm
Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh
Chiêm đã cung cấp nhiều thông tin
quý về thời Tiền sử và thời văn hoá
Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông
có niên đại hơn 3000 năm, thuộc thời
Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích
còn lại đều trên dưới 2000 năm, tức
là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh.
Những bộ sưu tập hiện vật quý được
thu thập từ các di tích khảo cổ là
các loại thuộc về công cụ sinh hoạt,
lao động sản xuất, chiến đấu, trang
sức, tín ngưỡng… bằng các chất liệu
gốm, đồng, sắt, đá, thuỷ tinh. Đặc
biệt còn có cả những tiền đồng Trung
Quốc: Ngũ Thù; Vương Mãng cùng với
các đồ trang sức mã não, thuỷ tinh
có gốc gác từ Nam Ấn Độ, Sri Lanka,
Trung Đông, chứng tỏ cách đây 2000
năm, dân cư ở đây đã có nghề trồng
lúa nước, khai thác thuỷ sản và làm
các nghề thủ công. Đồng thời cũng
thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu văn
hoá trong nước cùng các hoạt động
buôn bán với nước ngoài, lập nên một
Cảng-Thị sơ khai, là nền móng cho
các Cảng-Thị sau này.
Thế kỉ thứ 2 – Thế kỉ 15
Hai con mắt trên trong chùa Cầu (Lai
Viễn Kiều). Rất nhiều nhà cổ ở Hội
An có hai con mắt trên cửa như trong
hình
Kế tiếp dân cư Sa Huỳnh cổ là dân cư
Champa với nền văn hoá rực rỡ, mở
đầu thời kì vàng son cho một
Cảng-Thị hưng thịnh. Những cái tên
Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm), Đại
Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại), Cachiam
cùng với những tượng đá, giếng gạch
và dấu vết nền tháp, đặc biệt trong
các di chỉ khảo cổ học với các hiện
vật gốm sứ Champa, Ả Rập, Trung
Quốc; các đồ trang sức từ Trung
Đông, Ấn Độ và nhiều tài liêu, thư
tịch cổ Trung Quốc, Ả Rập, Ấn Độ, Ba
Tư xác nhận vùng Cửa Đại xưa kia là
hải cảng chính của nước Champa. Vùng
Lâm Ấp phố là nơi các chiến thuyền
ngoại quốc thường ghé lấy nước ngọt
từ những giếng Champa rất ngon và
trong; trao đổi sản vật như trầm
hương, quế, ngọc ngà, thuỷ tinh, tơ
lụa, đồi mồi, xà cừ.
Thế kỉ 15 – Thế kỉ 19
Tiếp nối thời Champa, khoảng cuối
thế kỉ 15, Hội An đã có dân cư Đại
Việt tới sinh sống. Trong buổi đầu
cùng với việc khai hoang, lập làng,
người Việt còn sáng tạo ra một số
ngành nghề phù hợp với điều kiện tự
nhiên và xã hội nơi đây. Từ cuối thế
kỉ 16 – thế kỉ 17, có thêm nhiều
người Hoa và người Nhật đến định cư,
giúp thương nghiệp Hội An phát
triển. Kết hợp với vị trí địa lý phù
hợp, Hội An nhanh chóng trở thành
một thương cảng phồn thịnh trong
nhiều thế kỉ.
Đến giữa thế kỉ 19, nền kinh tế Hội
An nhanh chóng suy thoái do nhiều
nguy nhân bất lợi: sự bồi cạn, sông
chuyển dòng, chính sách kinh tế hạn
chế của triều đình phong kiến. Ngay
gần đó, thương cảng Đà Nẵng hiện đại
do người Pháp lập nên đã lấn át hết
vai trò của Hội An.
1858 đến nay
Trong suốt 117 năm kháng chiến, nhân
dân Hội An đã kiên cường chiến đấu
cho độc lập và thống nhất của Việt
Nam; tiêu biểu là phong trào Nghĩa
Hội của Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo.
Sau đó, có nhiều cuộc nổi dậy, phong
trào như Duy Tân, phong trào chống
thuế, Đông Du.
Ngày 22 tháng 8 năm 1998 Hội An được
nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Ngày 4 tháng 12 năm1999 taị kì họp
thứ 23 tổ chức tại Marrakesh
(Maroc), Uỷ ban Di Sản thế giới của
UNESCO đã công nhận Hội An là di sản
văn hoà thế giới.
Hội An có 7 km bờ biển với nhiều bãi
tắm đẹp thuận lợi cho phát triển du
lịch và 01 ngư trường khá rộng với
nguồn hải sản khá dồi dào, có đảo Cù
Lao Chàm (rộng 1.591 ha) với nguồn
đặc sản Yến Sào nổi tiếng, đồng thời
là nơi rất thuận lợi để phát triển
du lịch sinh thái (Biển – Đảo).
+ Tài nguyên thiên nhiên nổi bật :
Từ thế kỷ 16 đến 19, Hội An từng là
trung tâm mậu dịch quốc tế trên hải
trình thương mại đông – tây, là một
thương cảng phồn thịnh nhất của xứ
Đàng Trong – Việt Nam dưới triều đại
các chúa Nguyễn bởi thương thuyền từ
Nhật Bản, Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha, Hà Lan … thường đến đây để
trao đổi, mua bán hàng hoá. Trong
lịch sử hình thành và phát triển,
Hội An đã được thế giới biết đến
dưới nhiều tên gọi khác nhau. Phổ
biến nhất là: Faifo, Haisfo, Hoài
phố, Ketchem, Cotam… Các di chỉ khảo
cổ và các hiện vật, công trình kiến
trúc còn lưu lại đã chứng minh Hội
An là nơi hội tụ, giao thoa giữa
nhiều nền văn hoá: Chăm, Việt, Trung
Hoa, Nhật Bản … trong đó chịu sự ảnh
hưởng nhiều nhất của văn hoá Việt và
Trung Hoa.
Đến nay, khu phố cổ Hội An vẫn bảo
tồn gần như nguyên trạng một quần
thể di tích kiến trúc cổ gồm nhiều
công trình nhà ở, hội quán, đình
chùa, miếu mạo, giếng cầu, nhà thờ
tộc, bến cảng, chợ… và những con
đường phố hẹp chạy ngang dọc tạo
thành các ô vuông kiểu bàn cờ. Cảnh
quan phố phường Hội An bao quát một
màu rêu phong cổ kính trông hư hư,
thực thực như một bức tranh sống
động. Sự tồn tại một đô thị như Hội
An là trường hợp duy nhất ở Việt Nam
và cũng hiếm thấy trên thế giới. Đây
được xem như một bảo tàng sống về
kiến trúc và lối sống đô thị.
Ngoài những giá trị văn hoá qua kiến
trúc đa dạng, Hội An còn lưu giữ một
nền tảng văn hoá phi vật thể khá đồ
sộ. Cuộc sống thường nhật của cư dân
với những phong tục tập quán, sinh
hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân
gian, lễ hội văn hoá đang được bảo
tồn và phát huy cùng với cảnh quan
thiên nhiên thơ mộng, các làng nghề
truyền thống, các món ăn đặc sản …
làm cho Hội An ngày càng trở thành
điểm đến hấp dẫn của du khách thập
phương.
Tháng 12 năm 1999, UNESCO đã công
nhận khu phố cổ Hội An là di sản văn
hoá thế giới.
Theo tài liệu thống kê, đến nay Hội
An có 1.360 di tích, danh thắng.
Riêng các di tích được phân thành 11
loại, gồm: 1.068 nhà cổ, 19 chùa, 43
miếu thờ thần linh, 23 đình, 38 nhà
thờ tộc, 5 hội quán, 11 giếng nước
cổ, 1 cầu, 44 ngôi mộ cổ. Trong khu
vực đô thị cổ có hơn 1.100 di tích.
Nguồn: Sưu tầm và WikiPedia Tiếng
Việt
|