|
Hội
An là mảnh đất giàu truyền thống
lịch sử cánh mạng và văn hóa, được
kết tinh qua nhiều thời đại và từng
nổi tiếng trên thương trường quốc tế
với nhiều tên gọi khác nhau như Lâm
Ấp, Faifo Hoài Phố, Hội An…
Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên
từ hơn 2000 năm trước, mảnh đất này
đã tồn tại và phát triển nền văn hóa
Sa Huỳnh muộn. Qua kết quả nghiên
cứu khảo cổ học tại 4 di tích mộ
táng (An Bang, Hậu Xá I, Hậu Xá II,
Xuân Lâm) và 5 điểm cư trú (Hậu Xá
I, Trảng Sỏi, Ðồng Nà, Thanh Chiắm,
Bàu Ðà), với nhiều loại hình mộ chum
đặc trưng, với những công cụ sản
xuất, công cụ sinh hoạt, đồ trang
sức tuyệt xảo bằng đá, gốm, thủy
tinh, kim loại… được lấy lên từ lòng
đất đã khẳng định sự phát triển rực
rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh. Ðặc
biệt sự phát hiện hai loại tiền đồng
Trung Quốc thời Hán (Ngũ Thù, Vương
Mãng), những hiện vật sắt kiểu Tây
Hán, dáng dấp Ðông Sơn, Óc Eo, hoặc
đồ trang sức với công nghệ chế tác
tinh luyện trong các hố khai quật đã
chứng minh một điều thú vị rằng,
ngay từ đầu Công nguyên, đã có nền
ngoại thương manh nha hình thành ở
Hội An.
Dưới thời vương quốc Chăm Pa (Thế kỷ
9-10), với tên gọi Lâm ấp Phố, Hội
An đã từng là cảng thị phát triển,
thu hút nhiều thương thuyền Ả Rập,
Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, trao
đổi vật phẩm. Nhiều thư tịch cổ ghi
nhận đã có một thời gian khá dài,
Chiêm cảng – Lâm ấp Phố đóng một vai
trò quan trọng trong việc tạo nên sự
hưng thịnh của kinh thành Trà Kiệu
và khu di tích đền tháp Mỹ Sơn. Với
những phế tích móng tháp Chăm, giếng
nước Chăm và những pho tượng Chăm
(tượng vũ công Thiên tiên Gandhara,
tượng nam thần tài lộc Kubera, tượng
voi thần…) cùng những mảnh gốm sứ
Trung Quốc, đại Việt, Trung Ðông thế
kỷ 2-14 được lấy lên từ lòng đất
càng làm sáng tỏ một giả thiết từng
có một Lâm ấp Phố (thời Chăm Pa)
trước Hội An (thời Ðại Việt), từng
tồn tại một Chiêm cảng với sự phát
triển phồn thịnh.
Cũng chính nhờ môi trường sông nước
thuận lợi, cộng với nhiều yếu tố
nội, ngoại sinh khác, từ thế kỷ 16
đến thế kỷ 19, đô thị – thương cảng
Hội An lại được tái sinh và phát
triển thịnh đạt. Do hấp lực của cảng
thị này, cùng với “con đường tơ
lụa”, “con đường gốm sứ” trên biển
hình thành từ trước nên thương
thuyền các mước Trung, Nhật, Ấn Độ,
Xiêm, Bồ, Hà, Anh, Pháp… tấp nập đến
đây giao thương mậu dịch.
Theo các nguồn sử liệu, lượng tàu
thuyền vào ra bến cảng tấp nập đến
nỗi cột buồm của chúng “như rừng tên
xúm xít” (Thích Ðại Sán – Hải ngoại
ký sự), còn hàng hóa thì “không thứ
gì không có”, nhiều đến mức ” cả
trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc
cũng không hết được” (Lê Quý Ðôn –
Phủ biên tạp lục). Trong thời kỳ
này, Hội An là đô thị-thương cảng
quốc tế phát triển rực rỡ vào bậc
nhất của cả nước và cả khu vực Ðông
Nam Á, là cơ sở kinh tế trọng yếu
của các chúa Nguyễn, vua Nguyễn ở
Ðàng Trong.
Từ cuối thế kỷ 19, do chịu sự tác
động của nhiều yếu tố bất lợi, “cảng
thị thuyền buồm” Hội An suy thoái
dần và mất hẳn, nhường vai trò lịch
sử của mình cho ” cảng thị cơ khí
trẻ”ớ Ðà Nẵng. Nhưng cũng nhờ đó,
Hội An đã tránh khỏi được sự biến
dạng của một thành thị trung – cận
đại dưới tác động của đô thị hóa
hiện đại để bảo tồn cho đến ngày nay
một quần thể kiến trúc đô thị cổ hết
sức độc đáo, tuyệt vời.
Trong suốt 117 năm kháng chiến chống
ngoại xâm (1858 – 1975), hàng nghìn
người dân Hội An đã ngã xuống cho
độc lập và thống nhất đất nước.
Nhiều địa phương và một số người
trong số họ đã được phong tặng danh
hiệu “Anh hùng”
Vào ngày 22/8/1998, Hội An được nhà
nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng
các lực lượng vũ trang nhân dân”.
Hơn một năm sau, ngày 4 tháng 12 năm
1999, Tổ chức Văn hóa – Khoa học –
Giáo dục Liên hiệp quốc UNESCO đã
ghi tên Hội An vào danh mục các di
sản Văn hóa thế giới và vào ngày
24/8/2000 Hội An một lần nữa được
nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh
hùng Lao động” trong thời kỳ đổi
mới.
|